Bài Thơ Đầu Tiên Của Tôi | Mi Primer Poema – Pablo Neruda

pablo neruda young (1)

Pablo Neruda năm 12 tuổi

BÀI THƠ ĐẦU TIÊN CỦA TÔI

Tôi thường được hỏi, tôi làm bài thơ đầu tiên khi nào, từ lúc nào thì thơ ca bắt đầu nảy sinh trong tôi.

Tôi sẽ cố nhớ. Một lần, lâu lắm rồi, từ thời thơ ấu, khi tôi chỉ vừa mới tập viết chữ, tôi cảm thấy trong người dâng trào một xúc động mãnh liệt và tôi nguệch ngoạc viết xuống vài dòng chữ hơi có vần, nhưng chúng khá xa lạ với tôi, không giống như ngôn ngữ của đời sống hàng ngày.

Bị ngộp thở bởi một cảm giác lo âu thâm trầm,  một cảm giác tôi chưa từng cảm thấy, nó như sự đau khổ và buồn bã, tôi viết lại bài thơ một cách gọn gàng trên một một tờ giấy. Đó là bài thơ tôi viết cho mẹ tôi (*), nói cách khác, cho người mà tôi biết qua người mẹ kế như thiên thần của tôi, người mà cái bóng nhẹ nhàng của bà đã bảo bọc tôi suốt thời thơ ấu.

Hoàn toàn không có khả năng tự đánh giá tác phẩm đầu tay của mình, tôi đưa nó cho bố mẹ tôi. Họ đang ngồi trong phòng ăn, đắm chìm trong những mẩu chuyện trong yên lặng, những mẩu chuyện mà, hơn cả một dòng sông, ngăn cách thế giới của con nít và của người lớn. Vẫn còn run rẩy bởi lần viếng thăm đầu tiên của nàng thơ, tôi trao cho họ mảnh giấy có mấy câu thơ của tôi.

Bố tôi cầm nó trong hai tay một cách lơ đễnh, đọc nó một cách lơ đễnh, trả lại cho tôi một cách lơ đễnh, rồi hỏi:

– Con chép nó từ đâu ra vậy?

Rồi ông tiếp tục nói với mẹ tôi về những công việc quan trọng và xa xôi của ông. Tôi nhớ mang máng bài thơ đầu tiên của tôi đã được ra đời như thế và đó cũng là lần tôi nhận được những lời phê bình văn học vô trách nhiệm đầu tiên trong đời.

(*) Mẹ ruột của Pablo Neruda mất chỉ hơn một tháng sau khi ông ra đời. Bố ông lấy vợ khác không lâu sau đó và bà là người đã nuôi dưỡng ông cho đến khi trưởng thành.

===
Phan Quỳnh Trâm trích dịch từ nguyên tác tiếng Tây Ban Nha từ hồi ký của Pablo Neruda, Confieso que he vivido, Seix Barra, 1974.
===

MI PRIMER POEMA
Muchas veces me han preguntado cuándo escribí mi primer poema, cuándo nació en mí la poesía.

Trataré de recordarlo. Muy atrás en mi infancia y habiendo apenas aprendido a escribir, sentí una vez una intensa emoción y tracé unas cuantas palabras semirrimadas, pero extrañas a mí, diferentes del lenguaje diario. Las puse en limpio en un papel, preso de una ansiedad profunda, de un sentimiento hasta entonces desconocido, especie de angustia y de tristeza. Era un poema dedicado a mi madre, es decir, a la que conocí por tal, a la angelical madrastra cuya suave sombra protegió toda mi infancia. Completamente incapaz de juzgar mi primera producción, se la llevé a mis padres. Ellos estaban en el comedor, sumergidos en una de esas conversaciones en voz baja que dividen más que un río el mundo de los niños y el de los adultos. Les alargué el papel con las líneas, tembloroso aún con la primera visita de la inspiración. Mi padre, distraídamente, lo tomó en sus manos, distraídamente lo leyó, distraídamente me lo devolvió, diciéndome:

—¿De dónde lo copiaste?

Y siguió conversando en voz baja con mi madre de sus importantes y remotos asuntos.

Me parece recordar que así nació mi primer poema y que así recibí la primera muestra distraída de la crítica literaria.

Trong Cơn Mất Ngủ| En El Insomnio – Virgilio Piñera

virgilio_web

Virgilio Piñera Llera, sinh năm 1912 và mất năm 1979, là một trong những tác giả lỗi lạc nhất của Cuba cũng như của châu Mỹ Latin nói chung. Sáng tác của ông rất đa dạng, gồm kịch (hơn 20 vở), tiểu thuyết (3 cuốn) và vô số truyện gắn, tiểu luận cũng như thơ. Có thời gian, hơn 12 năm, ông sống ở Argentina, sau, ông quay về Cuba một tháng trước khi cuộc cách mạng bùng nổ vào năm 1958. Dưới chế độ cộng sản, việc ông sáng tác theo khuynh hướng siêu thực và việc ông công khai viết về hiện tượng đồng tính luyến ái khiến nhà cầm quyền không vừa ý. Lúc ông qua đời, không có tờ báo nào ở Cuba nhắc đến. Tuy nhiên, càng về sau, người ta càng thấy ông là một cây bút lớn trong tiếng Tây Ban Nha. Gần đây, tác phẩm của ông được tái bản và được dịch ra rất nhiều ngôn ngữ trên thế giới.

***

TRONG CƠN MẤT NGỦ

Người đàn ông đi nằm sớm. Nhưng hắn không ngủ được. Cũng tự nhiên thôi, hắn xoay qua xoay lại trên giường. Hắn cuộn mình trong những tấm ra. Đốt một điếu thuốc. Đọc một chút.

Rồi hắn tắt đèn. Nhưng hắn cũng không thể ngủ. Lúc ba giờ sáng hắn ngồi dậy. Đánh thức người bạn đang nằm bên cạnh và tâm sự rằng hắn không thể ngủ được. Hắn xin bạn một lời khuyên. Người bạn khuyên là hắn nên đi dạo một chút cho đến khi thấm mệt. Rồi sau đó uống một tách trà bồ đề rồi tắt đèn. Hắn làm tất cả những điều ấy nhưng vẫn không cách gì ngủ được. Hắn lại ngồi dậy.

Lần này hắn chuyển sang cầu cứu bác sĩ. Như mọi khi bác sĩ nói dông nói dài nhưng hắn vẫn không thấy buồn ngủ. Lúc sáu giờ sáng hắn nạp đạn vào một khẩu súng lục và bắn một phát vỡ sọ.

Người đàn ông đã chết nhưng hắn vẫn không thể nào ngủ được. Bệnh mất ngủ là một thứ gì đó vô cùng dai dẳng.

Virgilio Piñera (1946)

===
Phan Quỳnh Trâm dịch nguyên tác tiếng Tây Ban Nha, trong Cuentos breves y extraordinarios, do Jorge Luis Borges & Adolfo Bioy Casares biên tập. Losada xuất bản tại Buenos Aires, 1989 (1957).
===

EN EL INSOMNIO

El hombre se acuesta temprano. No puede conciliar el sueño. Da vueltas, como es lógico, en la cama. Se enreda entre las sábanas. Enciende un cigarro. Lee un poco.

Vuelve a apagar la luz. Pero no puede dormirse. A las tres de la madrugada se levanta. Despierta al amigo de al lado y le confía que no puede dormir. Le pide consejo. El amigo le aconseja que haga un pequeño paseo a fin de cansarse un poco. Que en seguida tome una taza de tilo y que apague la luz. Hace todo esto pero no logra dormir. Se vuelve a levantar.

Esta vez acude al médico. Como siempre sucede el médico habla mucho pero el hombre no se duerme. A las seis de la mañana carga un revólver y se levanta la tapa de los sesos.

El hombre está muerto pero no ha podido quedarse dormido. El insomnio es una cosa muy persistente.

Virgilio Piñera (1946)

Hồi Ký Của Một Nhà Thơ – Pablo Neruda

1-pablo-neruda-confieso-que-he-vivido-memorias-20

Nhà thơ Chile Pablo Neruda có một cuốn hồi ký (xuất bản năm 1974 sau khi ông qua đời một năm) có nhan đề Tôi thú nhận là tôi đã sống (Confieso que he vivido). Chưa kể đến phần nội dung với rất nhiều chi tiết bất ngờ và thú vị, chỉ cái nhan đề ấy không cũng đủ hấp dẫn người đọc. Ở Việt Nam, giới cầm bút ít viết hồi ký, hoặc nếu viết, chỉ lấy tên chung chung là hồi ký. Thỉnh thoảng mới có những nhan đề lạ như Hơn nửa đời hư (Vương Hồng Sển) hay Ta đã làm chi đời ta (Vũ Hoàng Chương). Tuy nhiên hai nhan đề này dễ gợi ấn tượng ngậm ngùi, tiếc nuối, đầy tính chất tình cảm chủ nghĩa. Riêng nhan đề cuốn hồi ký của Neruda thì rất lạ: sau chữ “thú nhận”, người ta thường chờ đợi một cái gì bất ngờ. Ở đây, sự thú nhận ấy lại là “tôi đã sống”. Nó có vẻ hiển nhiên nhưng chính sự hiển nhiên ấy lại gợi cho người đọc nhiều liên tưởng. Dưới đây là phần dịch lời mở đầu cuốn hồi ký ấy.

***

Những hồi tưởng hay hoài niệm này đứt quãng hoặc có khi lãng quên, bởi vì đó chính là cuộc đời. Những giấc mơ gián đoạn giúp chúng ta vượt qua được những ngày làm việc. Rất nhiều điều mà tôi nhớ đã phai nhạt đi khi được gợi lại, chúng như tan thành tro bụi, như mảnh thuỷ tinh đã vỡ không còn hàn gắn được.

Hồi ức của một người viết hồi ký không như hồi ức của một nhà thơ. Có thể hắn sống ít hơn, nhưng hắn chụp được nhiều hình ảnh hơn và tái tạo lại cho chúng ta những chi tiết một cách tinh tế hơn. Nhà thơ cho chúng ta một một bộ sưu tập của những bóng ma rúng động bởi lửa và bởi bóng tối của thời đại hắn.

Có lẽ tôi đã không sống trong chính tôi; có lẽ tôi đã sống cuộc đời của những kẻ khác.

Những gì tôi đã viết ra trên những trang giấy này sẽ luôn rơi rụng-như những bụi cây của mùa thu hay như ở thời điểm những cánh đồng nho bắt đầu chín rộ – những chiếc lá nho vàng sẽ chết đi và những quả nho sẽ tái sinh trong rượu thánh.

Cuộc đời của tôi là một cuộc đời của tất cả cuộc đời: cuộc đời của một nhà thơ.

Pablo Neruda
===
Phan Quỳnh Trâm dịch từ nguyên tác tiếng Tây Ban Nha, trong Pablo Neruda, Confieso que he vivido, SEIX BARRAL xuất bản năm 1974.
===

Estas memorias o recuerdos son intermitentes y a ratos olvidadizos porque así precisamente es la vida. La intermitencia del sueño nos permite sostener los días de trabajo. Muchos de mis recuerdos se han desdibujado al evocarlos, han devenido en polvo como un cristal irremediablemente herido.

Las memorias del memorialista no son las memorias del poeta. Aquél vivió tal vez menos, pero fotografió mucho más y nos recrea con la pulcritud de los detalles. Este nos entrega una galería de
fantasmas sacudidos por el fuego y la sombra de su época.

Tal vez no viví en mí mismo; tal vez viví la vida de los otros.

De cuanto he dejado escrito en estas páginas se desprenderán siempre —como en las arboledas de otoño y como en el tiempo de las viñas—las hojas amarillas que van a morir y las uvas que revivirán en el vino sagrado.

Mi vida es una vida hecha de todas las vidas: las vidas del poeta.

Pablo Neruda

 

 

Bản Án | La Sentencia – Ngô Thừa Ân (Wu Ch’eng-en)

Ngô Thừa Ân (Wu Ch’eng-en), (c.1505 – c.1580), là nhà văn, nhà thơ ở thời Minh, Trung Quốc, Ông được biết đền nhiều nhất với bộ Tây Du Ký.

BẢN ÁN

Đêm hôm ấy, vào giờ Tý, hoàng đế nằm mơ thấy mình đang rời khỏi cung điện và đi bộ quanh một khu vườn, dưới những tán cây đang trổ bông, Có cái gì đó quỳ dưới chân ông và van xin được bảo vệ. Vị hoàng đế đồng ý; kẻ nài nỉ tiết lộ nó là một con rồng và nội trong ngày hôm sau, trước khi đêm xuống, Nguỵ Trưng, vị tướng của hoàng đế, sẽ chặt đầu nó. Trong giấc mơ, vị hoàng đế hứa là sẽ bảo vệ nó.

Khi tỉnh dậy, hoàng đế cho gọi Nguỵ Trưng. Thuộc hạ nói ông ta không có trong cung điện; hoàng đế ra lệnh đi tìm ông và khiến cho ông bận rộn nguyên cả ngày để ông không thể giết được con rồng, và đến khuya, ngài đề nghị ông chơi cờ. Chơi một lúc lâu, Nguỵ Trưng mệt mỏi và ngủ thiếp đi.

Bỗng nghe một tiếng gầm rung chuyển trời đất. Một lúc sau có hai thuyền trưởng mang vào một cái đầu khổng lồ vấy đầy máu. Họ ném nó xuống chân hoàng đế và la lên:

– Nó rơi từ trên trời xuống.

Nguỵ Trưng, vừa tỉnh dậy, nhìn nó với vẻ bối rối và quan sát:
– Lạ quá, tôi cũng vừa mới nằm mơ thấy giết một con rồng như thế.

====
Phan Quỳnh Trâm dịch từ tiếng Tây Ban Nha, trong Cuentos Breves Y Extraordinarios, do Jorge Luis Borges và Adolfo Bioy Casares biên tập, Losada xuất bản, Buenos Aires, 1989 (1957)
====

LA SENTENCIA

Aquella noche, en la hora de la rata, el emperador soñó que había salido de su palacio y que en la oscuridad caminaba por el jardín, bajo los árboles en flor. Algo se arrodilló a sus pies y le pidió amparo. El emperador accedió; el suplicante dijo que era un dragón y que los astros le habían revelado que al día siguiente, antes de la caída de la noche, Wei Cheng, ministro del emperador, le cortaría la cabeza. En el sueño, el emperador juró protegerlo.

Al despertarse, el emperador preguntó por Wei Cheng. Le dijeron que no estaba en el palacio; el emperador lo mandó buscar y lo tuvo atareado el día entero, para que no matara al dragón, y hacia el atardecer le propuso que jugaran al ajedrez. La partida era larga, el ministro estaba cansado y se quedó dormido.

Un estruendo conmovió la tierra. Poco después irrumpieron dos capitanes, que traían una inmensa cabeza de dragón empapada en sangre. La arrojaron a los pies del emperador y gritaron:

-¡Cayó del cielo!

Wei Cheng, que había despertado, la miró con perplejidad y observó:

-Qué raro, yo soñé que mataba a un dragón así.

 

CUENTOS BREVES Y EXTRAORDINARIOS

Tạp Chí Công Vụ | Diario Oficial – Jaime Sabines

sabines Xem tiểu sử Jaime Sabines

Tạp Chí Công Vụ
(Tháng 3, 1970)

Theo sắc lệnh của tổng thống: nhân dân không tồn tại.
Nhân dân rất hữu dụng cho những bài diễn văn ở các buổi tiệc:
“Tôi nâng ly chúc mừng nhân dân Mexico.”
“Tôi nâng ly chúc mừng nhân dân Hoa Kỳ.”

Và nhân dân còn phục vụ cho những cách dùng văn chương khác:
khi viết về lịch sử của nền dân chủ,
khi xuất bản một tạp chí cách mạng,
khi làm niên giám những lý tưởng lớn.

Nhân dân là một thực thể của thời quá khứ,
quá đỗi trừu tượng và vô hạn
Nó cũng được dùng để giúp bọn trẻ ngu ngốc

Tăng thêm diện tích những nghĩa trang liệt sĩ
hoặc làm đầy nhóc các nhà tù
hoặc học cách làm giàu.

Chính ngài bộ trưởng đã diễn đạt bằng cách hay nhất:
“Tôi dùng nhân dân để chùi đít.”

Đó là thứ tốt nhất mà nhân dân có thể hy vọng trở thành:
một cuộn giấy vệ sinh
để có thể viết nên lịch sử đương đại
bằng những cái móng tay.

Bản dịch của Phan Quỳnh Trâm 

========

Diario oficial
(Marzo de 70)

Por decreto presidencial: el pueblo no existe.
El pueblo es útil para hablar en banquetes:
“Brindo por el pueblo de México”,
“Brindo por el pueblo de Estados Unidos’.

Tambien sirve el pueblo para otros menesteres literarios:
escribir el cuento de la democracia,
publicar la revista de la revolución,
hacer la crónica de los grandes ideales.

El pueblo es una entidad pluscuamperfecta
Generosamente abstracta e infinita
Sirve también para que jóvenes idiotas
Aumenten el area de los panteones
O embaracen las cárceles
o aprendan a ser ricos.

Lo major de todo lo ha dicho un senor ministro:
“Con el pueblo me limpo el culo.”
He aquí lo máximo que puede llegar a ser el pueblo :
Un rollo de papel higiénico
Para escribir la historia contemporánea con las uñas

Thực Đơn Hôm Nay | Today’s Menu – Charles Simic

 

charles-simic1-300x450

Charles Simic sinh năm 1938 tại Yugoslavia; năm 16 tuổi theo gia đình di cư sang Mỹ. Tốt nghiệp tại trường New York University, ông trở thành giáo sư về văn học Mỹ tại trường University of New Hampshire. Ông nhận được nhiều giải thưởng về thơ, trong đó, quan trọng nhất là giải Pulitzer về thơ năm 1990 với tập The World Doesn’t End. Ngoài thơ, ông còn viết tiểu luận về văn học và triết học đồng thời cũng là một dịch giả nổi tiếng. Ông làm chủ bút về thơ cho tạp chí The Paris Review

Thực Đơn Hôm Nay

Tất cả những gì chúng tôi có, thưa ông,
Là một cái bát trống không và một cái thìa
Để ông húp
Những ngụm lớn của cái không gì cả,

 

Và khiến cho nó nghe như
Ông đang ăn một thứ súp đen, đặc,
Nóng hổi
Từ cái bát trống không.

===

Phan Quỳnh Trâm dịch từ bài “Today’s Menu” trong Charles Simic, The Lunatic, Ecco, New York, 2015.

===

Today’s Menu

 

All we got mister
Is an empty bowl and a spoon
For you to slurp
Great mouthfuls of nothing,

 

And make it sound like
A thick, dark soup you’re eating
Steaming hot
Out of the empty bowl.

 

The Lunatic

Chân Dung | Portrait – Bernard Noël

Bernard Noël sinh năm 1930, xuất bản tập thơ đầu tay, Les Yeux Chimeres, lúc ông 25 tuổi. Sau đó, ông in thêm một tập thơ văn xuôi rồi bẵng đi hơn 10 năm im lặng, đến giữa thập niên 1960, ông mới xuất hiện trở lại với cả hai thể loại thơ và văn xuôi. Tổng cộng tác phẩm của ông không nhiều nhưng Noël vẫn được xem là một trong những nhà văn và nhà thơ có phong cách đẹp nhất trong thế hệ của ông.

Chân Dung

Mẫu tự ở đâu?

Người đàn ông hấp hối hỏi
rồi im lặng

Miễn là một người đàn ông còn sống
hắn không cần phải biện minh cho cái lưỡi của mình

Khi người đàn ông chết
Hắn phải trả lại bản chữ cái của hắn

Từ mỗi cái chết
Chúng ta chờ đợi bí mật của cuộc đời
Hơi thở cuối cùng mang theo
mẫu tự bị mất tích

Biến mất đằng sau khuôn mặt
Ẩn mình bên trong tên gọi

===
Phan Quỳnh Trâm dịch từ bản dịch tiếng Anh “Portrait” của Michael Tweed, trong The Yale Anthology of Twentieth-Century French Poetry, Mary Ann Caws biên tập, Yale University Press, 2004.
===

Portrait

where is the letter?

asks the dying man before going silent

as long as a man lives
there is no need to justify his tongue

when a man dies
he must return his alphabet

from each death
we await the secret of life
the last breath carries
the missing letter

it vanishes behind the face
it hides within the name

Sự Chết, Tôi Nói Về Nó| Death, I speak of it – Claire Lejeune

 

Yale Anthology of French poetry

Sinh năm 1926, Claire Lejeune là một trong những nhà thơ và tiểu luận gia nổi tiếng của Pháp sau đệ nhị thế chiến. Bà sáng lập hai tờ tạp chí tại Geneva. Les Cahiers Internationaux de Symbolisme (năm 1962) và Réseaux (1965). Tờ sau vốn là một tạp chí liên ngành về triết lý đạo đức và chính trị có khá nhiều ảnh hưởng trong giới trí thức Âu châu. Bà nhận được một số giải thưởng có uy tín về văn học. Tác phẩm chính của bà bao gồm: Le Gange et le Feu (1963), Le Pourpre (1966), La Geste (1966), Le Dernier Testament (1969) và ELLE (1969; tái bản có bổ sung 1994) (theo The Yale Anthology of Twentieth-Century French Poetry)
===

Sự chết, tôi nói về nó
Như thể tôi sẽ nói về đồng đô la hay đồng Tây Ban Nha
Dù tôi chưa hề đặt chân đến Châu Mỹ,
Dù chảy trong dòng máu tôi là nước Tây Bây Nha trinh nguyên
như hương vị của một quả lựu chín,
dù tôi chưa từng nếm lựu…

Tôi nói về sự chết
Như tôi phát âm tên mình;
Đó là một thói quen rất cũ,
Khi nói, nó đã là sự chết.

Nhưng, có một cái chết mà không ai nói đến
bởi vì nó trần truồng và không thể mặc áo,
Cái chết chìm như một nắm đấm vào gối;
Cái nhìn cuối cùng trên khuôn mặt mẹ tôi,

Rồi có một cái chết nở hoa từ bên trong.
Thở tôi vào, hấp thụ tôi, nuôi sống tôi,
và là đời sống khác của tôi.
Cái chết mà không ai nói tới.

==
Phan Quỳnh Trâm dịch từ bản dịch tiếng Anh “Death, I Speak Of It” của Renée Linkhorn and Judy Cockran trong The Yale Anthology of Twentieth-Century French Poetry, Mary Ann Caws biên tập, Yale University Press, 2004.
===

Death, I Speak of It
Death, I speak of it
Just as I would speak of dollars and pesetas
Though I have never set foot in America,
Though in my blood there flows a virgin Spain
Like the flavor of a ripe pomegranate,
Though I have never tasted pomegranate . . .
I speak of death
As I pronounce my name;
It is a very old habit,
It is deathly to speak of it . . .
Yet there is a kind that no one speaks of
Because it is naked and cannot be clothed.
Death sunk like a fist in a pillow:
The last look on my mother’s face.
Then there is a kind that blossoms inside,
Breathes me in, absorbs me, feeds on me,
The kind that is my other Life.
The kind of death that no one speaks of.

 

Hypnos – René Char

)René Char

René Char (1907 –1988) là một trong những nhà thơ xuất sắc nhất của Pháp trong thế kỷ 20. Lúc trẻ, trong thập niên 1920, ông tham gia vào phong trào thơ siêu thực với các bạn hữu như Louis Aragon, André Breton và René Crevel. Đến giữa thập niên 1930, ông dần dần tách ra khỏi nhóm. Đầu thập niên, khi Pháp bị Đức Quốc xã chiếm, ông tham gia tích cực vào cuộc kháng chiến chống phát xít. Suốt thời kỳ này, ông viết tập “Feuillets d’Hypnos” dưới hình thức những câu cách ngôn, trình bày những suy nghĩ của ông về chính trị và văn học nghệ thuật. Tập sách này được Gallimard xuất bản lần đầu tiên ở Paris vào năm 1946, sau đó, được dịch ra nhiều thứ tiếng. Mấy đoạn dưới đây được dịch từ bản tiếng Anh của Mark Hutchinson.

19. Nhà thơ không thể ở mãi trong tầng bình lưu của Ngôn Ngữ. Hắn phải cuộn mình trong những giọt nước mắt nóng hổi và đẩy vào thành cơ ngơi của chính hắn.

28. Có một loại người luôn luôn đi trước đống phân của hắn một bước.

31. Tôi giữ các bài viết của tôi thật ngắn. Tôi khó có thể đi xa thật lâu. Viết dài có thể sẽ biến thành một nỗi ám ảnh. Sự ngưỡng mộ của những kẻ chăn cừu không còn hữu dụng trên trái đất này nữa.

39. Chúng ta bị giằng xé giữ sự khao khát kiến thức và nỗi tuyệt vọng một khi đã biết chúng. Sự hiếu kỳ sẽ không bỏ rơi nỗi day dứt của nó, cũng như chúng ta sẽ không bỏ rơi niềm hy vọng của chúng ta.

46. Hành động nào cũng trinh bạch, ngay cả khi được lặp lại.

63. Bạn chỉ có thể chiến đấu ngoan cường cho một lý tưởng góp phần định hình bạn và khiến bạn bị đốt cháy khi đồng nhất với nó.

72. Trong hành động, nên cổ sơ; trong sự tiên đoán, nên là một nhà chiến lược.

77. Làm sao bạn có thể ẩn nấu khỏi những gì lẽ ra là một phần của bạn (Đây là lỗi lầm của thời hiện đại.)

81. Sự ưng thuận làm sáng khuôn mặt. Sự chối từ mang lại vẻ đẹp cho nó.

83. Nhà thơ, thần hộ mệnh của vô số những khuôn mặt của cuộc đời.

114. Tôi sẽ không làm bài thơ thoả hiệp nào.

140. Cuộc đời bắt đầu bằng một sự bùng nổ và kết thúc bằng một hiệp ước. Thật phi lý.

154. Nhà thơ, vốn có khuynh hướng phóng đại, có thể suy nghĩ một cách rõ ràng dưới sự câu thúc.

===
Phan Quỳnh Trâm dịch từ bản dịch tiếng Anh của Mark Hutchinson, trong René Char, Hypnos, Seagull Books, 2014.
===

19. The poet cannot remain for long in the stratosphere of the Word. He must curl up in fresh tears and push on into his own estate.

28. There’s a species of man who is always one step of his own excrement.

31. I kept my writings short. I can hardly be away for long. To write at length would turn into an obsession. The adoration of the shepherds is no longer of any use to the planet.

39. We are torn between hunger for knowledge and despair at having known. The goad won’t abandon its sting, nor we our hope.

46. An act is virgin, even when repeated.

63. You only fight well for a cause which you yourself have shaped and which you then get burnt identifying with.

72. In action, be primitive; in foresight, a strategist.

77. How can you hide from what is meant to be part of you? (The mistake made by modernity.)

81. Acquiescence lights up the face. Refusal gives it beauty.

83. The poet, guardian of life’s infinite faces.

114. I will write no poem of consent.

140. Life began with an explosion and will end with a pact? It’s absurd.

154. The poet, inclined to exaggerate, thinks clearly under duress.

Layout 1

Một người lính tàn phế | El soldado mutilado – Gabriel García Márquez

gabriel garcia marquez universidad nacional portrait

Một người lính tàn phế

Một người lính người Argentina trở về từ quần đảo Falkland khi chiến tranh kết thúc gọi điện thoại cho mẹ mình từ Trung Đoàn I của Palermo ở Buenos Aires và xin phép đem về nhà một chiến hữu bị tàn phế mà gia đình anh ta thì lại ở một nơi khác. Đó là – theo như anh nói – một tân binh mười chín tuổi đã mất một chân và một cánh tay trong chiến tranh, và bị mù nữa.

Người mẹ, dù sung sướng khi biết con trai sống sót trở về, trả lời một cách kinh hãi là bà sẽ không thể chịu nổi khi nhìn thấy cảnh tàn phế, và từ chối tiếp nhận anh bạn ở nhà bà.

Cậu con trai dập máy xuống và tự bắn chết mình.


Phan Quỳnh Trâm dịch từ nguyên tác tiếng Tây Ban Nha “El soldado mutilado” http://cuentos-ya.blogspot.com.au/2013/08/3-microcuentos-de-garcia-marquez.html

El soldado mutilado

Un soldado argentino que regresaba de las Islas Malvinas al término de la guerra llamó a su madre por teléfono desde el Regimiento I de Palermo en Buenos Aires y le pidió autorización para llevar a casa a un compañero mutilado cuya familia vivía en otro lugar. Se trataba —según dijo— de un recluta de 19 años que había perdido una pierna y un brazo en la guerra, y que además estaba ciego.
La madre, aunque feliz del retorno de su hijo con vida, contestó horrorizada que no sería capaz de soportar la visión del mutilado, y se negó a aceptarlo en su casa.
Entonces el hijo cortó la comunicación y se pegó un tiro

Bi kịch của một kẻ vỡ mộng | El drama del desencantado – Gabriel García Márquez

Bi kịch của một kẻ vỡ mộng

 
…bi kịch của một người đàn ông vỡ mộng lao xuống đất từ căn hộ ở tầng thứ mười và khi đang rơi xuống thì hắn thấy qua những khung cửa sổ đời sống riêng tư của những người hàng xóm, những bi kịch gia đình nho nhỏ, những tình yêu vụng trộm, những khoảnh khắc hạnh phúc ngắn ngủi, mà những tin tức về nó không bao giờ chạm đến được cầu thang công cộng, để rồi ở giây phút thân thể hắn đâm sầm vào vỉa hè thì hắn đã hoàn toàn thay đổi cách nhìn thế gian và đi đến kết luận là cuộc đời mà hắn mãi mãi từ bỏ đằng sau cánh cửa giả thật sự là đáng sống.

 


Phan Quỳnh Trâm dịch từ nguyên tác tiếng Tây Ban Nha “El drama del desencantado” http://www.ciudadseva.com/textos/cuentos/esp/ggm/el_drama_del_desencantado.htm

El drama del desencantado

…el drama del desencantado que se arrojó a la calle desde el décimo piso, y a medida que caía iba viendo a través de las ventanas la intimidad de sus vecinos, las pequeñas tragedias domésticas, los amores furtivos, los breves instantes de felicidad, cuyas noticias no habían llegado nunca hasta la escalera común, de modo que en el instante de reventarse contra el pavimento de la calle había cambiado por completo su concepción del mundo, y había llegado a la conclusión de que aquella vida que abandonaba para siempre por la puerta falsa valía la pena de ser vivida.

Cái Chết ở Samarra|La Muerte en Samarra – Gabriel García Márquez

marquez

Gabriel García Márquez (6 March 1927 – 17 April 2014)

Cái Chết ở Samarra

Người đày tớ chạy về nhà chủ nhân của mình với vẻ mặt kinh hãi.

–          Thưa ngài – hắn nói – tôi thấy Thần Chết ở ngoài chợ và ông ấy đã ra dấu đe doạ tôi.

Người chủ cho hắn một con ngựa và tiền, rồi nói:

–          Hãy trốn đến Samarra.

Người đày tớ trốn đi. Đầu chiều hôm ấy, người chủ lại gặp Thần Chết ở ngoài chợ, ông nói:

–          Sáng nay ông đã ra dấu đe doạ người đầy tớ của tôi.

–          Không phải đe doạ, mà là ngạc nhiên. Bởi tôi thấy hắn ở đằng kia, xa thật xa Samarra, nên ngay chiều hôm nay tôi lại phải đến đấy để nhặt lấy hắn.


Phan Quỳnh Trâm dịch từ nguyên tác tiếng Tây Ban Nha “La Muerte en Samarra” của Gabriel García Márquez, từ http://www.ciudadseva.com/textos/cuentos/esp/ggm/la_muerte_en_samarra.htm

El criado llega aterrorizado a casa de su amo.

-Señor -dice- he visto a la Muerte en el mercado y me ha hecho una señal de amenaza.

El amo le da un caballo y dinero, y le dice:

-Huye a Samarra.

El criado huye. Esa tarde, temprano, el señor se encuentra a la Muerte en el mercado.

-Esta mañana le hiciste a mi criado una señal de amenaza -dice.

-No era de amenaza -responde la Muerte- sino de sorpresa. Porque lo veía ahí, tan lejos de Samarra, y esta misma tarde tengo que recogerlo allá.

Một triệu trái dưa hấu|Un millón de sandías – Isidoro Blaisten

Isidoro Blaisten (January 12, 1933 – August 28, 2004)

Một triệu trái dưa hấu

Chuyện kể là có hai người đàn ông da đen đang nằm nghỉ trưa trên sườn đồi ở Mississippi. Một trong hai người duỗi tay duỗi chân, ngáp, thở dài rồi nói:
– Ước gì tôi có được một triệu trái dưa hấu.
Người đàn ông da đen kia hỏi:
– Rostus, nếu ông có một triệu trái dưa hấu, ông có cho tôi một nửa không?
– Không!
– Không? Vậy thì một phần tư?
– Không, một phần tư cũng không.
– Rostus, nếu ông có một triệu trái dưa hấu, chẳng lẽ ông không cho tôi được mười trái?
– Không!
– Chẳng lẽ một trái cũng không? Cho tôi, bạn của ông mà?
– Nghe nè, Sam, nếu tôi có một triệu trái dưa hấu, chỉ một miếng thôi tôi cũng không cho ông, một lát cũng không.
– Nhưng, tại sao, Rostus?
– Bởi vì ông quá lười đến mức không thể tự mơ cho chính mình.

==
Phan Quỳnh Trâm dịch từ nguyên tác tiếng Tây Ban Nha “Un millón de sandías” của Isidoro_Blaisten.
Link: http://www.cuentosymas.com.ar/blog/un-millon-de-sandias/
==

Un millón de sandías

Resulta que dos negros estaban dormidos en las laderas del Mississippi. Uno de los dos se desperezó, bostezó, suspiró y dijo:
– Cómo me gustaría tener un millón de sandías.
El otro negro preguntó:
– Rostus, si tuvieras un millón de sandías, ¿me darías la mitad?
– ¡No!
– ¿No? ¿No me darías un cuarto?
– No, no te daría un cuarto.
– Rostus, si tuvieras un millón de sandías, ¿no me darías diez sandías?
– No.
– ¿No me darías siquiera una sandía? ¡A mi que soy tu amigo?
– Mira, Sam, si tuviera un millón de sandías, no te daría una sola raja siquiera, una sola tajada de sandía.
– Pero, ¿por qué, Rostus?
– Porque eres demasiado perezoso para soñar por ti mismo.

Quả trứng bị đập vỡ |El Huevo Casado-Antonio Fernández Molina

AFmolina

QUẢ TRỨNG BỊ ĐẬP VỠ

Trong khốn khó, một quả trứng là một buổi ăn tối thanh đạm và một giấc ngủ yên bình: tôi cầm nó trên tay và đập vỡ nó để cho vào chảo. Thay vào chỗ của lòng trắng và lòng đỏ là một người đàn ông giống tôi như đúc. Hắn đang đập vỡ một quả trứng trên thành chảo và từ đó lại nhảy ra một người đàn ông khác, nhỏ hơn, cũng giống hệt tôi, với một quả trứng trong tay. Và cứ tiếp tục như thế. Vô tận.


Phan Quỳnh Trâm dịch từ nguyên tác tiếng Tây Ban Nha “El Huevo Cascado” của Antonio Fernández Molina

EL HUEVO CASCADO

En la miseria, un huevo es cena frugal y sueño tranquilo: le cogí en mis manos y cascarlo para depositarlo en la sartén. En lugar de la clara y la yema, salió un hombrecillo en todo semejante a mí. Cascaba un huevo sobre la sartén y salía otro personaje, aún más pequeño, que también se me parecía, con un huevo en la mano. Y así indefinidamente…

Quá già (*) – Ana María Shua

anamariashua

Ana María Shua (April 22, 1951 ~)

Xem tiểu sử Ana María Shua ở đây

 

Từ trong một bọng cây, một người đàn ông gọi tôi. Cô ơi, cứu tôi với, hắn năn nỉ. Tôi bị phù thuỷ nhốt ở đây cả mấy thế kỷ rồi, chỉ mong chờ một trinh nữ đến cứu. Tôi không phải là một trinh nữ, đồ thô lỗ, tôi là đàn bà; tôi trả lời, cảm thấy như bị xúc phạm. (Một người đàn ông đã sống đến mấy thế kỷ thì quá già đối với tôi).

===
Phan Quỳnh Trâm dịch từ nguyên tác tiếng Tây Ban Nha, trong tập truyện cực ngắn của Ana María Shua, La Sueñera, Aguilar (October 1996)
(*) Nhan đề do người dịch đặt.
===

Desde el hueco de un árbol, me llama un caballero. Sálveme, señorita, me ruega. Hace ya varios siglos que me encuentro encantado, esperando a la doncella que venga a liberarme. Yo no soy señorita, maleducado, soy señora, le contesto ofendida. (Un caballero de varios siglos es demasiado viejo para mí).

suenera

Điểm Đến | Destino – Salfuman

Screen Shot 2016-02-28 at 12.38.49 am

ĐIỂM ĐẾN

Hắn làm dấu ở trang bốn ngàn không trăm hai mươi ba và gấp cuốn sách lại. Hắn ăn sáng, đi làm, sếp của hắn nói gì đó về năng suất làm việc và với một câu “rất tiếc”, sa thải hắn; hắn trở về nhà, ăn tối và lên giường nằm.

Ngày hôm sau, hắn quyết định không mở cuốn sách ra nữa, và bước chân của hắn đưa hắn trở lại sở làm một lần nữa, nơi hắn lại bị sa thải ; hắn trở về nhà nấu đồ ăn tối và lên giường.

Khi tỉnh dậy, hắn cầm lấy quyển sách, nhìn nó một cách chán ghét; hắn mở trang tiếp theo và, sau một lúc do dự, xé nó.

Hắn ra khỏi nhà và không có gì xảy ra cả, cũng chẳng có nhà để hắn trở về.

===
Phan Quỳnh Trâm dịch từ nguyên tác tiếng Tây Ban Nha “Destino” của Salfuman trong I Concurso de Microrrelatos LdN, Edición Libro de notas, 2010
Đây là một trong những truyện ngắn được giải trong cuộc thi viết truyện cực ngắn LdN.
===

DESTINO

Puso el punto en la página cuatro mil veintitrés y cerró el libro. Desayunó, se fue al trabajo, su jefe le comentó algo sobre productividad y con un lo siento fue despedido, volvió a casa, cenó y se metió en la cama.

Al día siguiente decidió no abrir el libro, así que sus pasos le guiaron de nuevo al trabajo, donde fue despedido de nuevo, volvió a casa preparó la cena y se metió en la cama.

Cuando se levantó cogió el libro y lo miró asqueado, lo abrió por la siguiente página y, tras un momento de vacilación, la arrancó.

Salió de su casa y no había nada, no había ni casa a la que volver.

Giấc mơ – Ana María Shua

anamariashua

Ana María Shua (April 22, 1951 ~)

Xem tiểu sử Ana María Shua ở đây

Một người đàn ông mơ là hắn đang yêu một người đàn bà. Người đàn bà chạy trốn. Người đàn ông cho những con chó của khát vọng đuổi theo. Người đàn bà đi qua một chiếc cầu bắc ngang sông, xuyên qua một bức tường, trèo lên một ngọn núi. Những con chó bơi qua sông, nhảy qua bức tường và dừng lại ở chân của ngọn núi thở hồng hộc. Trong giấc mơ, người đàn ông biết là hắn sẽ không bao giờ đạt được mơ ước của mình. Khi tỉnh dậy, người đàn bà đang nằm bên cạnh hắn và người đàn ông nhận ra, một cách thất vọng, là nàng đã thuộc về hắn rồi.

===
Phan Quỳnh Trâm dịch từ nguyên tác tiếng Tây Ban Nha tập truyện cực ngắn của Ana María Shua, La Sueñera, Aguilar (October 1996)
===

Un hombre sueña que ama a una mujer. La mujer huye. El hombre envía en su persecución los perros de su deseo. La mujer cruza un puente sobre un río, atraviesa un muro, se eleva sobre una montaña. Los perros atraviesan el río a nado, saltan el muro y al pie de la montaña se detienen jadeando. El hombre sabe, en su sueño, que jamás en su sueño podrá alcanzarla. Cuando despierta, la mujer está a su lado y el hombre descubre, decepcionado, que ya es suya.

suenera

Recuerdos de un gran escritor, Umberto Eco

RIP Umberto Eco, A life so rich.

IMG_3469

 

 

A Man’s Soul |Tâm Hồn Của Một Người – Yehuda Amichai

Yehuda Amichai (May 1924 – 22 September 2000)

Yehuda Amichai (May 1924 – 22 September 2000)

A MAN’S SOUL

A man’s soul is like
A train schedule
A precise and detailed schedule
Of trains that will never run again.

TÂM HỒN CỦA MỘT NGƯỜI

Tâm hồn của một người giống
Một lịch trình xe lửa
Môt lịch trình chi tiết và chính xác
Của những chiếc xe lửa không bao giờ chạy nữa


Phan Quỳnh Trâm dịch từ bản dịch tiếng Anh của Benjamin và Barbara Harshav, trong Yehuda Amichai, A Life of Poetry 1948-1994, HarperCollinsPublisher, 1994.
a life of poetry

Statistics|Thống Kê – Yehuda Amichai

yehuda_amichai

Yehuda Amichai (1924 –2000)

Statistics

For every man in a rage there are always
two or three back-patters who will calm him,
for every weeper, many more tear-wipers,
for every happy man, plenty of sad ones
who want to warm themselves at his happiness.

And every night at least one man
can’t find his way home
or his home has moved to another place
and he runs around in the streets,
superfluous.

Once I was waiting with my little son at the station
as an empty bus went by. My son said:
“Look, a bus full of empty people”.

Yehuda Amichai (1924-2000),
Translated into English by Chana Bloch and Stephen Mitchell

 Xem tiểu sử Yehuda Amichai

Thống Kê

Với mỗi người đang trong cơn giận dữ, luôn có
hai ba người vỗ lưng khuyên dịu lắng
Với mỗi người đang khóc nức nở, lại có nhiều hơn những kẻ chùi nước mắt
Với mỗi người hạnh phúc, có vô số người buồn bã
muốn tự sưởi ấm mình trong hạnh phúc của gã

Và mỗi đêm có ít nhất một người
không thể trở về nhà
hay nhà gã đã dời đi chỗ khác
và gã chạy lòng vòng trên đường phố
Vô ích.

Có lần tôi chờ cùng đứa con trai ở trạm xe buýt
Một chiếc xe buýt trống không chạy qua. Con tôi nói:
“Nhìn kìa, chiếc xe buýt đầy ắp những con người trống không!”

======

Phan Quỳnh Trâm dịch từ bản dịch tiếng Anh “Statistics” của Chana Bloch và Stephen Mitchell trong Yehuda Amichai, The Selected Poetry of Yehuda Amichai, University of California Press, 2013.
=====

amichai (1)