Triết học trong thời AI – Phan Quỳnh Trâm

Trong quyển 21 Lessons for the 21st Century (tạm dịch: 21 bài học cho thế kỷ 21 ), xuất bản năm 2018, trước khi ChatGPT và làn sóng AI bùng nổ, nhà sử học Yuval Noah Harari lập luận rằng, dù trí tuệ nhân tạo có thể khiến nhiều người bị loại khỏi thị trường lao động, triết học sẽ ngày càng trở nên cần thiết, vì nhu cầu định hướng đạo đức, thống nhất những hệ giá trị và rèn luyện khả năng tư duy phản biện lại ngày càng cần thiết. Ông viết: “Nếu như bạn muốn học một ngành nào đó có thể giúp bảo đảm một công việc tốt trong tương lai, thì triết học không phải là một canh bạc tồi”. (*)

Nhiều nhà phê bình có thể cho là Harari đã hơi bi kịch hoá tác động của AI (gần đây nhất trong quyển Nexus: A Brief History of Information Networks from the Stone Age to AI, xuất bản năm 2024), và lãng mạn hoá vai trò của triết gia; nhưng có lẽ không nhiều người phủ nhận rằng con người trong thời đại AI không chỉ cần kiến thức kỹ thuật, để biết cách dùng AI như một công cụ, mà còn cần năng lực tự nhận thức: hiểu mình là ai, mong muốn điều gì và nên sống ra sao. Những cuộc tranh luận về việc liệu sự sáng tạo văn chương và nghệ thuật của AI có đe doạ cái gọi là trải nghiệm con người (the human experience) hay không đã xuất hiện từ khá lâu (từ những thí nghiệm AI đầu tiên hồi thập niên 50, 60), và lại được làm rộ lên gần đây bởi sự xuất hiện của các công cụ AI thế hệ mới. Triết học Hy Lạp có câu nói nổi tiếng: Know thyself (hãy tự biết mình). AI có thể “generate” thơ, nhạc, tranh ảnh, etc, nhưng nó không có trải nghiệm sống (lived experience), cảm xúc, sự tự nhận thức… Như vậy phần nào của sự sáng tạo thực sự thuộc riêng về con người? Nếu người ta không tự biết mình, thì khi sáng tạo nghệ thuật, người ta muốn truyền đạt điều gì? Nó có mục đích gì, và còn có ý nghĩa gì? Đây đều là những câu hỏi của triết học.

Trước khi nghỉ làm để sinh con, trong công việc tôi sử dụng ChatGPT Enterprise mỗi ngày, và nó giúp tôi tiết kiệm được rất nhiều thời gian. Công ty tôi làm là một công ty công nghệ sinh học, vốn đầu tư rất sớm và với quy mô lớn cho AI trong việc phát triển thuốc, thử nghiệm lâm sàng, quản lý dữ liệu bệnh nhân và hỗ trợ quyết định điều trị, nên đạo đức không là một lựa chọn, mà là bắt buộc. Chính vì liên quan trực tiếp đến sức khỏe con người và bị giám sát chặt chẽ bởi các quy định pháp lý, các công ty buộc phải sử dụng AI một cách thận trọng và có trách nhiệm nếu không muốn hệ luỵ về sau.

Nhưng không phải vì những lý do trên đây mà đầu năm 2019 tôi bắt đầu đăng ký học khoá triết học đầu tiên của chương trình đào tạo thưởng xuyên của trường đại học Sydney, mà vì lý do phàm phu tục tử hơn nhiều: thất tình. Lúc đó tôi vừa chia tay bồ cũ, và cũng cần “know thyself”. Một khoá học kéo dài 10 tuần, mỗi tuần 2 tiếng. Tính đến nay được 7 năm, tôi đã học được đúng 30 khoá: Bắt đầu với Aristotle, rồi Philosophy of Time, Philosophy of History, Philosophy of Law, Consciousness, Phenomenology, Hegel, Derrida, Foucault, Philosophy of Science, Wittgenstein, Spinoza, Nietzsche, Hannah Arendt, Heidegger, Work in the age of AI… và gần đây nhất là Philosophy of Chaos.

Số lượng tài liệu mà chúng tôi đã đọc và học có thể nói là nhiều hơn chương trình học của một cử nhân khoa triết (dù biết là điều đó cũng chẳng có nghĩa lý gì), nhưng cái hay là nhờ những khoá học này mà chúng tôi có thể đọc một cách có hệ thống hơn và càng học nhiều đọc nhiều thì cũng dễ “connect the dots” hơn khi suy nghĩ về một vấn đề gì đó.

Lớp học được tổ chức rất dân chủ. Học viên đọc tài liệu trước giờ học mỗi tuần. Hai giờ học chủ yếu đuợc dành cho việc thảo luận, và học viên giảng viên tranh luận với nhau một cách bình đẳng chứ không theo kiểu thầy giảng trò nghe. Trước Covid chúng tôi học trong lớp, nhưng sau Covid thì tất cả được tổ chức qua zoom, nhưng nhờ vậy mà có nhiều học viên từ những nước khác và thành phố khác có thể đăng ký học được. Khoá Hannah Arendt có một học viên từ Brazil, khoá Heidegger lại có người từ Scotland…

Càng học tôi càng thấy biết là mình không biết gì cả, và càng bớt khoác lác (đặc biệt là trên facebook :)), nhưng mặt khác, nhờ tranh luận nhiều nên bây giờ tôi có thể tự tin hơn khi trình bày những vấn đề phức tạp trước đám đông. Nhưng điều đáng kể nhất là tôi có được những người bạn tuyệt vời cùng goût sách vở, âm nhạc và phim ảnh. Không những vậy, họ thật tử tế, rộng lượng và tâm hồn họ thật đẹp và yên ả. Cứ vài tháng chúng tôi lại gặp nhau một lần để có một ngày đóng kịch cùng nhau hoặc đọc thơ cho nhau nghe, chơi nhạc cùng nhau, hoặc chỉ gặp nhau ăn uống rồi tán dóc.

Tôi chưa biết liệu triết học có giúp nghề nghiệp của tôi khi ngành Data Engineering không còn cần tới hay không. Tôi cũng không nghĩ xa tới đó. Nhưng tôi biết nhiều người trong số những người bạn của tôi đã khá lớn tuổi. Hai trong số đó gần đây đã từ bỏ cuộc chơi. Triết học, rốt cuộc, giúp chúng ta đối diện với điều trước mắt, điều muôn đời không thay đổi, bởi AI hay bởi bất cứ điều gì khác: sự hữu hạn của đời người. Hay nói như Montaigne, trong một nhan đề của một bài tiểu luận của ông (dựa trên ý tưởng của Cicero): “That to Study Philosophy is to Learn to Die” , học triết học có nghĩa là học cách chết.

Phan Quỳnh Trâm
Sydney, tháng 3, 2026

(*) Những quyển sách được xuất bản trước đó của Harari cũng đặt ra những điều tương tự như vậy, như trong Sapiens: A Brief History of Humankind (2011), Home Deus (2015).

Leave a comment