30 tháng 4, Derrida, Arendt, và sự Tha thứ – Phan Quỳnh Trâm

Trong phần hai quyển On Cosmopolitanism and Forgiveness (1), Derrida thảo luận về thế tiến thoái lưỡng nan của việc hòa giải và ân xá trong những tình huống mà những chấn thương đẫm máu của lịch sử đòi hỏi những hình thái khác nhau của sự tha thứ, qua đó, ông đưa ra một nghịch lý về sự tha thứ: nếu sự tha thứ chỉ dành cho những gì có thể tha thứ được [the forgivable], thì chính hành động tha thứ đó không còn có ý nghĩa nữa; sự tha thứ, vì thế, chỉ có giá trị khi nó được dành cho những gì không thể tha thứ được [the unforgivable].

Để nói rõ thêm, ví dụ, bạn tin tưởng một ai đó, trong lúc yếu lòng, bạn đem dốc hết bầu tâm sự của bạn, những bí mật, những điều làm bạn khổ tâm, cho người đó. Vài tháng sau, bạn phát hiện ra, những gì bạn kể cho họ trở thành đề tài bàn tán trong lúc trà dư tửu hậu. Bạn có thể tha thứ cho họ không? Có thể. Nhưng khi bạn nghĩ rằng bạn có thể tha thứ cho hành động đó, thì sự tha thứ của bạn không còn có giá trị, thậm chí không còn cần thiết. Đó chỉ là chuyện nhỏ, rất nhỏ. Khoảng thời gian này năm ngoái, tôi thật xúc động khi xem video một người đàn ông trung niên vừa mất cả ba đứa con nhỏ của mình và một đứa cháu vì tai nạn giao thông, bởi một tài xế lái xe dưới ảnh hưởng của rượu và thuốc gây nghiện. Vô cùng đau khổ bởi cú sốc quá lớn, vậy mà ông không hề có một lời trách móc thù hận nào với kẻ gây ra tai nạn, thậm chí sau đó, trong một cuộc phỏng vấn, cả hai vợ chồng đều nói rằng họ tha thứ cho tài xế, và chỉ mong những người lái xe cẩn thận hơn (2). Hành động tha thứ đó, dù đáng kính trọng, thì theo lập luận của Derrida, nó vẫn không có ý nghĩa, bởi vì ngay khi người ta tha thứ cho những gì thể tha thứ được, thì ý nghĩa về sự tha thứ đã biến mất.

Nói cách khác, Derrida cho: “Sự tha thứ phải tự công bố rằng chính bản thân nó là điều bất khả. Nó chỉ khả thể khi làm những gì không thể.” Derrida trích lời Jankélévitch trong bài ‘L’Imprescriptible’, khi nói đến những tội ác không thể thay đổi được, những tội ác nằm ngoài tất cả những thước đo của nhân loại, “những tội ác chống lại nhân tính của con người, không phải chống lại ‘kẻ thù’ (chính trị, tôn giáo, hay ý thức hệ), mà là chống lại những gì khiến con người trở thành một con người – nghĩa là chống lại sức mạnh của sự tha thứ”, như trong thảm họa diệt chủng Holocaust: “Sự tha thứ đã chết đi trong các trại tử thần” [Forgiveness died in the death camps]. Một người Việt cũng có thể nói: Sự tha thứ kết thúc trong cải cách ruộng đất, ở những mồ chôn tập thể Tết Mậu Thân, trên biển Đông… Để cho khách quan, “bên thắng cuộc” cũng có thể nói những điều tương tự. Tuy vậy, Derrida lập luận: “sự tha thứ khả thi từ thời điểm nó có vẻ như bất khả thi. Lịch sử của nó, ngược lại, sẽ bắt đầu với những điều không thể tha thứ”.

Phải chăng bởi lòng bao dung của con người cũng có giới hạn, hoặc lòng thù hận do những đau thương mất mát quá lớn, quá sức chịu đựng, con người đã tạo ra một đấng tối cao, một Thượng Đế, một vị Phật, để thay cho họ thực hiện hành động tha thứ: ”Lạy Chúa, xin tha thứ cho họ vì họ không biết đến việc họ làm”. Nhưng sự tha thứ đó, theo Derrida, ít nhất trong Công Giáo, đôi khi vẫn là sự tha thứ có điều kiện. Nó vẫn cần đối tượng được tha thứ thừa nhận lỗi lầm của mình, phải ăn năn, phải thay đổi. Ông đòi hỏi một sự tha thứ quyết liệt hơn, một sự tha thứ vô điều kiện, hoàn toàn thuần túy, không đòi hỏi bất cứ điều gì từ đối tượng được tha thứ, kể cả sự ăn năn hối cải của họ.

Derrida cho rằng người ta không bao giờ tìm được một chính sách hay một định luật về sự tha thứ, theo ý nghĩa thuần túy của chữ đó. ‘Tha thứ’ là chữ hay bị lạm dụng nhất, và bị xem quá nhẹ, vì lý do chính trị, vì lý do kinh tế, như một sự tính toán, một sự buôn bán đổi chác, ví dụ, nhân danh “hòa hợp hòa giải dân tộc”. “Sự tha thứ không là, không bao giờ được nên xem như một liệu pháp hòa giải” […] “Nó phải đặc biệt và phi thường, khi đối mặt với điều bất khả; như thể nó gián đoạn tiến trình bình thường của thời gian lịch sử.” Derrida không quá ngây thơ để biết rằng không dễ dàng để đạt được điều đó. Vì vậy, ông chỉ dám ‘mơ ước’, ngay cả khi nó chỉ là một giấc mơ của ý tưởng, về một sự tha thứ ‘tinh khiết’ xứng đáng với tên gọi của nó, một sự tha thứ vô điều kiện, và vô chủ quyền. Tuy vậy, những giả thuyết ông đặt ra đáng để chúng ta suy nghĩ, nhất là trong một ngày như ngày hôm nay.

Tôi muốn dùng một đoạn của Hannah Arendt, trong Human Condition (3), để kết thúc bài viết này: “Nếu không được tha thứ, được giải thoát khỏi những hậu quả của những gì chúng ta đã làm, thì khả năng hành động của chúng ta, như vốn có, sẽ bị giới hạn trong một hành vi duy nhất mà chúng ta không bao giờ có thể phục hồi được; chúng ta sẽ mãi là nạn nhân của những hậu quả của nó”.

Phan Quỳnh Trâm.
(30 tháng 4, 2021)
——
(1) Jacques, D. (2001). On Cosmopolitanism and Forgiveness. Translated by M. Dooley & M. Hughes. London and New York: Routledge

(2) Abc.net.au. 2021. Father of three kids killed in crash urges motorists to take care. [online] Available at: [Accessed 29 April 2021].

(3) Arendt, H. (1998), Human Condition, Chicago: The University of Chicago Press.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s